III. Diệt giặc đói giặc dốt và giải quyết khó khăn về tài chính. Tổ chức ngày đồng tâm, lập hũ gạo cứu đói. Đẩy mạnh tăng gia sản xuất. 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập nha bình dân học vụ kêu gọi nhân dân tham gia các lớp xóa nạn mù chữ. Ví như như giữa những năm đói hèn của nạn đói 1945, bà là fan gắn bó với người sáng tác nhất, yêu thương tác giả nhất thì vào tám năm ròng của cuộc loạn lạc chống Mĩ, tình cảm bà con cháu ấy lại càng sâu đậm: "Mẹ cùng phụ vương công tác bận không về Truyện đã miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Đồng thời tác giả còn thể hiện được bản chất tốt đẹp và sức sống kỳ diệu của họ. Vậy nguyên do nào đưa tới nạn đói bi thảm của năm Ất Dậu (1945) cách 60 năm về trước? Trở lại bối cảnh chính trị của đất nước ta vào những năm cuối của cuộc đệ nhị thế chiến để truy tìm nguyên nhân của thảm trạng này. 1. Quân Nhật kiểm soát Đông Dương Nạn đói 1945 khiến Hồ Thị Cúc mồ côi bố và bà nội. Ông nội đón hai mẹ con bà Trinh (mẹ chị Cúc) về nuôi. Một thời gian sau bà Trinh đi bước nữa, Hồ Thị Cúc lớn lên nhờ sự cưu mang của ông nội cho đến khi tham gia TNXP. "Cô gái Sơn Bằng có một tuổi thơ khổ cực và hy sinh anh dũng, khiến tôi rất xúc động. Tại Sài gòn, Tập San Sử Địa trong một số báo trước 1975 có phổ biến bài viết về "Nạn Đói Năm Ất Dậu (1945)" của Bà GS Tăng Xuân An, phụ trách giảng dậy môn Sử Địa. Bài thơ "ĐÓI' của thi sĩ Bàng Bá Lân (Tháng năm 1957). ("Thi Nhân Việt-Nam Hiện Đại, quyển zOMH. 29-12 HB10 Trần Xuân An — HAI BÀI THƠ VỀ NẠN ĐÓI ẤT DẬU 1945 Bài bổ sung vào chùm thơ sử về Quảng Trị “NGHI THỨC NHẶT CƠM RƠI CỦA BÀ MẸ QUÊ” 29-12 HB10 — đã gửi đăng ở TranNhuongCom — Có thể đọc ở — Bấm vào đây Ảnh Nhiếp ảnh gia Võ An Ninh Hà Nội, 1945 NGHI THỨC NHẶT CƠM RƠI CỦA BÀ MẸ QUÊ Trần Xuân An nhớ bài thơ về Đa Nhim, 1981 quý hạt ngọc trời, thói quen từ bé chao vào muỗng canh những hạt cơm rơi đưa lên miệng, kính cẩn lời niệm khẽ chưa từng nhạt phai, dù tuổi tám mươi Ất Dậu, bốn lăm, niềm đau trận đói cha lén ăn, để chết lịm con thơ quá tủi thẹn, đã tự mình treo cổ! suốt đời bà, chưa khuây quên bao giờ chuyện quê buồn, tôi nghe từ tuổi nhỏ người thành ma đói, ngập chợ đầy đường một cơ khổ giữa trùng trùng cơ khổ năm năm giặc Nhật, mấy triệu đau thương trở mặt Đông Du, mị lừa Đại Á xót đau, biết trước, còn bịp ai đây! nay tóc bà vẫn trắng mây nhân hậu lỡ cơm rơi, nhặt lại, dẫu đủ đầy nỗi mất nước khắc sâu vào số phận tiếc ngọc trời thành nghi thức nguyện cầu Hiro, Naga cũng hằng tưởng niệm với tiếng bẻ gươm? vỗ cánh bồ câu. 14 – 1525, 29-12 HB10 TXA. Tôi có chỉnh sửa lại đôi chút ở khổ thơ đầu, so với bản đã gửi đăng. Dẫu vậy, nội dung vẫn không có gì thay đổi. Đây là bản chính thức. Xin thành thật cáo lỗi. TXA. 30-12 HB10. Ảnh Nhiếp ảnh gia Võ An Ninh Hà Nội, 1945 Bóng đèn điện — từ nguồn điện Đa Nhim Đơn Dương — ở Đức Trọng, Lâm Đồng giọt mồ hôi tủi nhục, giọt lệ căm hờn, giọt máu tiến công, giọt nắng nhân hậu tứ thơ của TXA. Ảnh lớn hơn ảnh chỉ có tính chất minh họa – Google tìm kiếm ĐA NHIM, NHỚ LẠI MỘT TỨ THƠ MƯỜI LĂM NĂM TRƯỚC Trần Xuân An tưởng niệm nỗi đau lịch sử nạn đói Ất dậu 1945 ngồi trước trang sách mở bóng điện tròn sáng soi nghe trĩu đau vầng trán nghẹn đặc giọt mồ hôi giọt mồ hôi cúi mặt trồng đay bỏng kiếp tôi đòi trên đồng lúa ngậm đòng phải cắn răng nhổ bỏ! chữ học trò giấy vở bóng đèn chao nét ngời ngước lên nhìn giọt lệ tự thuở nào, sắp rơi giọt lệ rơi từ hốc mắt hờn căm ngút trời hai triệu rưởi người quắt queo chết đói! sổ tay thơ buốt nhói máu ứa ra chảy ròng như mồ hôi nước mắt bóng điện rực rỡ hồng giọt máu hồng nhoà ngực lạnh mưa đông vẫn nắm chặt tầm vông lao vào đồn giặc! đâu chỉ là nước mắt chuyện tình xưa, đa nhim! 1 bóng điện treo từng giọt lương tâm không im lìm thắp màu nắng nghìn xưa bao dung nhân hậu ấm buồng tim để Hi-rô-shi-ma, Na-ga-sa-ki 2 cũng đêm đêm rưng rưng giọt nắng! 1981 – 1995 Đức Trọng, Lâm Đồng – TXA. 1 Đa Nhim, địa danh ở tỉnh Lâm Đồng, tiếng nhân tộc K’Hor, có nghĩa là nước mắt. Đó là nơi có hồ nước thuỷ điện. Công trình thủy điện Đa Nhim này do Nhật Bản bồi thường chiến tranh, trước 1975.2 Hiroshima, Nagasaki, hai thành phố của Nhật Bản bị đánh bom nguyên tử, kết liễu cuồng vọng Đại Đông Á thuộc Nhật của phát-xít Nhật. Nguồn ảnh Báo Người Hà Nội Bắc kỳ,1945 Đã đăng tại các tạp chí điện tử tự lập PhongDiepNet TranNhuongCom Thử xem bản dịch thô ra tiếng Anh, bài “ĐA NHIM, NHỚ LẠI MỘT TỨ THƠ MƯỜI LĂM NĂM TRƯỚC” 1981-1995, ở phần “bàn luận” comment. Ất Dậu bốn lăm, niềm đau trận đói. cha lén ăn, mặc chết lịm con thơ. quá tủi thẹn, đã tự mình treo cổ! suốt đời bà chưa khuây quên bao giờ. chuyện quê buồn tôi nghe từ tuổi nhỏ. người thành ma đói n Domain Liên kết Hệ thống tự động chuyển đến trang sau 60 giây Tổng 0 bài viết về có thể phụ huynh, học sinh quan tâm. Thời gian còn lại 000000 0% Bài viết liên quan Tác phẩm văn học về nạn đói 1945 Văn học Việt Nam và nạn đói năm 45 - Việt Nam Overnight Văn học Việt Nam và nạn đói năm 45 Trong quá trình học môn Ngữ Văn, chúng ta sẽ nhận thấy có rất nhiều tác phẩm có bối cảnh hoặc hình tượng nhân vật.. dựa trên thực tế. Và mỗi học sinh phải có những Xem thêm Chi Tiết Một Tác Phẩm Văn Học Lớp 12 Viết Về Nạn Đói 1945 Jun 12, 2021MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC LỚP 12 VIẾT VỀ NẠN ĐÓI 1945. Tác giả Lê Trần Diệu Thu Official được chia sẻ tại website Xem thêm Chi Tiết List Sách hay về nạn đói năm 1945 - WiiBook Dec 19, 2020Nạn Đói Năm 1945 Ở Việt Nam Những Chứng Tích Lịch Sử là công trình nghiên cứu được công bố năm 1995 do Giáo sư Văn Tạo và Giáo sư Furuta Motoo chủ biên. Đến khi ấy, công chúng mới ngỡ ng Xem thêm Chi Tiết Những cuốn sách hay về nạn đói năm 1945 đầy thực tế và đau thương Nạn Đói Năm 1945 Ở Việt Nam Những Chứng Tích Lịch Sử là công trình nghiên cứu được công bố năm 1995 do Giáo sư Văn Tạo và Giáo sư Furuta Motoo chủ biên. Đến khi ấy, công chúng mới ngỡ ngàng và tìm v Xem thêm Chi Tiết Vợ nhặt Kiệt tác cảm động về tình người trong nạn đói năm 1945 Ra đời cách đây khoảng năm thập kỷ, Vợ nhặt là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất về nạn đói 1945. Bằng ngòi bút tài hoa, Kim Lân đã thành công xây dựng bối cảnh nạn đói thê thảm, sự thiện lương c Xem thêm Chi Tiết Cái Đói - Chủ Đề Ám Ảnh Trong Các Tác Phẩm Của Nam Cao Thấy được "Cái đói - chủ đề ám ảnh trong tác phẩm của Nam Cao trước Cách. mạng tháng Tám 1945" tức là thấy được cái nhìn sắc sảo của Nam Cao đối với những vấn. đề nóng bỏng trong xã hội cũng như tấm l Xem thêm Chi Tiết Những tác phẩm văn học hay nhất thời kỳ 1945-1975 Năm 1945 được coi là dấu mốc lịch sử quan trọng đối với văn học Việt Nam, đây là năm cách mạng tháng 8 thành công, vua Bảo Đại thoái vị và Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh là nước Việt Nam Xem thêm Chi Tiết Day dứt trước tác phẩm sắp đặt về nạn đói 1945 Báo Dân trí Day dứt trước tác phẩm sắp đặt về nạn đói 1945 Chủ nhật, 11/12/2011 - 1825 Dân trí - 1945 cái chén sơn mài vàng chóe viết số 1945 và 1945 đôi đũa phủ sơn đỏ trong một không gian rộng hơn 200m2 nói Xem thêm Chi Tiết Các tác phẩm văn học Việt Nam trước 1945 có giá ... - Noron Đời thừa - ấn bản mới phát hành 2016 của Minh Long Book tuyển chọn những truyện ngắn đặc sắc của Nam Cao xoay quanh cuộc sống người trí thức, với những tuyên ngôn để đời của nhà văn Nam Cao về văn chư Xem thêm Chi Tiết Đề tài Cái đói - Chủ đề ám ảnh trong nhiều tác phẩm của Nam Cao Thấy được "Cái đói - chủ đề ám ảnh trong tác phẩm của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám 1945" tức là thấy được cái nhìn sắc sảo của Nam Cao đối với những vấn đề nóng bỏng trong xã hội cũng như tấm lòn Xem thêm Chi Tiết 15 cuốn sách hay về nạn đói năm 1945 kể cho chúng ta nghe câu chuyện về nạn đói lớn những năm 1945 khiến hàng triệu người thiệt đói năm 1945 làm khoảng 400 ngàn – 2 triệu người chết. Ngày nay, nhắc đến nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu ấy người ta sẽ chỉ nhớ có thể, hoặc nếu hơn thì sẽ là những hình ảnh bi thảm trong những thước phim của bộ phim Sao Tháng Đói Năm 1945 Ở Việt Nam Những Chứng Tích Lịch Sử là công trình nghiên cứu được công bố năm 1995 do Giáo sư Văn Tạo và Giáo sư Furuta Motoo chủ biên. Đến khi ấy, công chúng mới ngỡ ngàng và tìm về cái năm bi thảm nhất trong lịch sử Việt Nam hiện chết khủng khiếp nhất của bất kỳ sinh vật sống nào là chết đói. Cái chết đến dần dần, làm tổn thương và dày vò con người trong đau đớn, xấu hổ và kinh hoàng. Tuy nhiên, nạn đói năm 1945 đã để lại những thảm họa không ai lường trước được. Những cửa hàng bị bỏ hoang, những xác người thối rữa nằm rải rác trên đường phố và những ngôi mộ tập thể dày đặc. Cái đói hủy hoại mọi đạo đức, cá tính và lương tâm – những bi kịch trong đó cái đói biến con người thành quái vật, trẻ sơ sinh bị răng nanh hoang dã nuốt chửng, cha con tàn sát lẫn nhau để giành lấy miếng khốc, kinh hoàng là tất cả những gì có thể dùng để nhắc về thảm kịch năm ấy. Con số 2 triệu người cứ như thế xoáy sâu dần dần vào lịch sử và sẽ nhắc cho độc giả thấy, 1945 không chỉ là một năm của độc lập huy hoàng, đó còn là năm của tang thương mất NhặtVợ nhặt là truyện ngắn của nhà văn Kim Lân viết về thời kỳ xảy ra nạn đói năm 1945, được in trong tập Con chó xấu xí 1962.Tiền thân của truyện là tiểu thuyết Xóm ngụ cư, được viết ngay sau khi Cách mạng tháng tám thành công. Tác phẩm đang viết dang dở thì bị mất bản thảo, nhà văn sau đó đã dựa vào cốt truyện cũ để viết truyện ngắn đánh giá của các nhà phê bình văn học, giá trị của Vợ nhặt là tố cáo tội ác của thực dân, phản ánh cuộc sống thê thảm của nhân dân trong nạn đói. Qua đó, Kim Lân đã bộc lộ sự cảm thông với nỗi khổ của những người dân nghèo, phát hiện ra vẻ đẹp trong tâm hồn và nhân cách Cũ Hà Nội… Băm sáu bố phường, Cái tàu điện, Phố Mới, phố Hàng Đào, phố Hàng Ngang, phố Nghề, Hội Tây, Bà Ba Bé Tý, Tiếng rao đêm, Cơm đầu ghế, Chiếc áo dài, Ông Hai Tây, Cây Hồ Gươm Chỉ nêu vài tên bài như thế cũng thấy sự hiện diện đa dạng của cái nội thành đa đoan lắm chuyện. Phố Hàng Đào với những “mợ Hai” khinh khỉnh, vàng ngọc đầy cổ đầy tay, phố Hàng Nganh với những chú tây đen thờ lợn, chủ hiệu vải, sinh hoạt bí hiểm song cũng đa tình, Phố Mới có nhà cầm đồ Vạn Bảo “lột da” dân nghèo, có cả chợ đưa người, một thứ chợ môi giới thuê mướn – cả mua bán – những vú em, thằng nhỏ, con sen… những thân phận nghèo hèn đem thân làm nô bộc cho thiên cái tàu điện leng keng, những ngày Hội Tây bên bờ Hồ Gươm, những tà áo dài từ thuở thay vai và nhuộm nâu Đồng Lầm đến áo Lơ Muya sặc sỡ mối thời trang một thời…Cái hay ở Tô Hoài là những cái lăng nhăng sự đời ấy chũ của Tản Đà đã có ít nhiều người ghi lại. Chuyện ông Hai Tây làm xiếc, Bà Bé Tý lên đồng… sách báo đã từng đề cập. Nhưng lần này Tô Hoài lại nhìn ra những nét hoạt kê mới, hay cũng đã nhiều người viết về quà Hà Nội nhưng cái bài Chả cá, Bánh cuốn, Phở của Tô Hoài có những thông tin hay, mới mẻ, ngay như Nguyễn Tuân cũng chưa phát hiện hết. Cũng như các loại tiếng rao hàng ban đêm thì Thạch Lam đã ghi chép vậy mà ở Tiếng rao đêm của Tô Hoài vẫn có nhiều ý tứ vậy đó, với vài nét kí họa, Tô Hoài đã vẽ được cái thần thái của một thành phố nghìn tuổi đang đô thị hóa gấp gáp trở thành nửa Tây nửa ta, nửa cũ nửa mới, nửa sang nửa quê…Có một Hà Nội nhố nhăng như thế thì cũng có một Hà Nội lầm lầm than ấy càng rõ nét hơn ở các làng quê ven nội. Thợ cửi, thợ giấy làm quần quật ngày đêm mà vẫn đói khổ, rồi nạn Tây đoan sục bắt rượu lậu và những người dân lành đói khổ phải nhận đi “tù rượu thay” để vợ con ở nhà có người chu cấp. Sự bần cùng ấy hằn sâu nhất trong chuyện Chết đói. Nạn đói năm 1945 đã làm vợi đi của làng Nghĩa Đô bao người. Ngay cả tác giả và bạn văn Nam Cao nếu không có một người quen ý tứ trả công dạy học lũ con ông ta bằng gạo thì “không biết chúng tôi có mắt xanh lè giống thằng Vinh hay dì Tư không, hay còn thế nào nữa…”Trong sách còn một mảng kể về phong tục. Nhiều cái nay không còn. Như các đám múa sư tử thi đêm Rằm Trung Thu ở những phố Hàng Ngang, Hàng Đường và đánh nhau chí tử, quang cảnh những ngày áp tết dường như cả nước kéo về Hà Nội… Ở ven đô thì hội hè đình đám, khao vọng, đám ma… Các bài Làm ma kho, Thẻ thuế thân, Khổng Văn Cu vừa bi vừa hài. Có một bài tuyệt hay, đó là bài mô tả đám rước Thánh Tăng. Đích thị là một lễ hội phồn thực có từ đời nảo đời nao mà tới tận thời Pháp thuộc vẫn còn tồn tại, lại ở ngay sát nách kinh kì. Bấy nhiêu hình ảnh không bao giờ xuất hiện nữa nhưng tôi cứ nghĩ rằng ngày nay, ít ra thì những nhà làm phim lịch sử, viết truyện lịch sử, dựng kịch lịch sử rất cần đến. CHUYỆN CŨ HÀ NỘI chính là một tập kí sự về lịch sử… Văn học Việt Nam và nạn đói năm 45 Trong quá trình học môn Ngữ Văn, chúng ta sẽ nhận thấy có rất nhiều tác phẩm có bối cảnh hoặc hình tượng nhân vật.. dựa trên thực tế. Và mỗi học sinh phải có những kiến thức nhất định về những điều trên để có thể có được những bài phân tích văn học có chất lượng, giúp bài văn của bản thân trở nên đặc biệt, có chiều sâu. Ở bài viết ngày hôm nay, mình sẽ nêu ra một dấu mốc xuất hiện rất nhiều trong những áng văn Việt Nam, đó là "Nạn đói năm 1945". Qua những áng văn chương, chúng ta đã chứng kiến câu chuyện đau lòng của lịch sử Việt Nam. Đó là thời mà cái đói, cái rét bủa vây lấy đồng bào mình. Chắc hẳn, chưa ai quên được những câu thơ trong tác phẩm "Bếp lửa" của nhà thơ Bằng Việt "Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy" Cái sự "đói mòn đói mỏi" đầy ám ảnh ấy lặng lẽ bước vào văn chương, để rồi sau này ra đời những truyện, những hồi ký ám ảnh người đọc về sau. Có mấy ai mà không bồi hồi, xót xa khi nghĩ về nốt trầm mặc ấy của dân tộc.. Vậy, nỗi ám ảnh ấy đã xuất hiện trong văn chương như thế nào? Trước hết, chúng ta hãy tới với nhà văn Tô Hoài. Ông đã từng viết về nạn đói "Mỗi khi chợt nghĩ lại, tôi vẫn bàng hoàng về những năm khủng khiếp ấy", không chỉ vậy, tác giả "Vợ chồng A Phủ" còn từng nói rằng "chữ nghĩa tôi run rẩy, thổi bay được. Khủng khiếp quá". Cái run rẩy kia âu cũng chính là cái run rẩy của Tô Hoài, của mỗi con người Việt Nam khi thấy hiểu trước nạn đói đã cướp đi tính mạng của hai triệu con người. Thật vậy, trong tác phẩm "Chuyện cũ Hà Nội", ông đã đưa cái "run rẩy" vào câu văn khi miêu tả chuyện mua bán trẻ em như mua bán một con lợn giữa những năm đói như sau "Lại thêm người đói các nơi ùn tới. Trong đầu chợ, nhan nhản người đem bán trẻ con. Ở làng tôi, người quảy trẻ con sang bán ở các chợ bên kia sông Hồng. Có người chuyên đi buôn trẻ con, như thời thường mua bán gà lợn. Nhưng đâu bây giờ cũng hết cái ăn, ai còn mua trẻ con làm gì. Bắt đi lắm khi lại dắt về. Khốn khổ". Lúc bấy giờ, Hà Nội đâu phải là nơi nạn đói hoành hành, thế nhưng người đói đổ về đây rất nhiều, điều này dẫn tới hình ảnh phố phường Hà Nội đầy thê lương, vất vưởng "Càng phấp phỏng, càng hoảng hốt khi trông thấy lũ lượt người đói các nơi kéo vào.. Người ngồi, người chết la liệt các vỉa hè. Suốt ngày đêm xe kéo xác chết lầm lũi qua". Chừng ấy đủ khiến người ta hình dung một hiện thực khắc nghiệt, tang tóc đến nghẹn lòng. Nhắc đến sự kiện nạn đói năm 45 trong văn học thì không thể không kể đến Nam Cao. Các tác phẩm truyện ngắn của ông, mỗi truyện khắc họa một bi kịch khác nhau của phận người trong cái đói, cái nghèo. Ông đã từng đau đớn mà viết rằng "Con chó chết vào giữa cái hồi đói khủng khiếp mà có lẽ đến năm 2000, con cháu chúng ta vẫn còn kể". Nam Cao đã nhìn ra cái đói đã tiềm tang tự thuở nào trong đời sống của những con người thấp cổ bé họng. Đó là hình ảnh một lão Hạc sống leo lắt qua ngày trong khu vườn chẳng còn gì để bán. Đó là nhân vật bà lão đói quá lâu, cho tới khi có được một bữa no thì cơ thể không thể chịu được bữa no bất thường ấy, rồi bà lão lăn ra chết. Trong cái nghèo, cái đói, và sự cô độc ấy, con người ta dường như phải giành giật sự sống, dù chỉ là hi vọng mong manh nhất. Tương tự với những áng văn của Nam Cao, tác phẩm Vợ Nhặt của Kim Lân cũng phản ánh vô cùng chân thực cái rùng rợn của nạn đói năm 45. Truyện lấy bối cảnh nạn đói năm 1945 tràn lan khiến người chết như ngả rạ, người sống dật dờ như những bóng ma. Cái hình ảnh người "chết như ngả rạ" khiến chúng ta không khỏi sợ hãi trước trò đùa của tạo hóa. Thế nhưng, trong hoàn cảnh tước cái đói, phải đối diện tử thần, nhiều người mất nhân tính, cốt có cái đưa vào miệng, vẫn có những câu chuyện xúc động. Đó chính là câu chuyện của Tràng và thị, những con người chưa biết ngày mai sẽ như thế nào nhưng họ vẫn sẵn sàng tìm đến nhau, trao nhau hơi ấm tình người. Không chỉ trong các tác phẩm truyện ngắn, cái đói cái nghèo ấy cũng xuất hiện ngay cả những dòng thơ. Trong tác phẩm "Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc", Văn Cao đã phải đau đớn mà thốt lên rằng "Ngã tư nghiêng nghiêng đốm lửa Chập chờn ảo hóa tà ma.. Đôi dãy hồng lâu cửa mở phấn sa Rũ rượi tóc những hình hài địa ngục Lạnh ngắt tiếng ca nhi phách giục Tình tang.. Não nuột khóc tàn sương Áo thế hoa rũ rượi lượn đêm trường Từng mỹ thể rạc hơi đèn phù thể Ta đi giữa đường dương thế Bóng tối âm thầm rụng xuống chân cây.." Hay như trong tác phẩm "Ô Cầu Dền" của nhà văn Bảo Sinh, cái chết giữa những tháng ngày đói khổ ấy đã trở thành cái chết chung, là "mả chôn chung" của cả dân tộc "Năm 1945, đây là mả chôn chung của nạn nhân chết đói. Hàng ngày, xe bò chở đầy xác chất trên phủ mảnh chiếu, chân tay thò ra ngoài, lọc cọc, rập rình, xe đu đưa những cánh tay, cẳng chân cũng đu đưa theo. Xác chết được đổ đầy vào một cái hố chôn chung, sau đó lấp đất phẳng, không có dấu hiệu mồ mả gì cả". Những câu văn, lời thơ trên chua chát, đắng cay bởi nó có hiện thực, có mồ hôi, nước mắt, xương máu của đồng bào ta. Từng hình ảnh cứ hiện lên sống động qua từng con chữ như muốn nhắc nhở người ta ghi nhớ mãi, như ghi nhớ một thứ kí ức đớn đau đến cứa da cứa thịt của dân tộc này! Cảm ơn mọi người đã đọc bài của mình nạn đói văn học ý nghĩa

thơ về nạn đói 1945